TUYÊN QUANG CÓ TỪ BAO GIỜ
Thứ Năm, ngày 25 tháng 6 năm 2020 - 15:2
Nhắc đến Tuyên Quang, người ta không chỉ biết đến đây là cái nôi của cách mạng là “Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến” mà còn bởi vẻ đẹp sơn thủy hữu tình với non cao, suối biếc, cùng với những nét văn hóa đặc sắc và lịch sử hào hùng với những chiến công lẫy lừng trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước mà ở đó mỗi tên đất, tên làng đều ghi đậm dấu ấn phát triển của lịch sử dân tộc.

 

   An biên viễn ải ưu kim bạc
   Tuyên thành vạn cổ án Thăng Long
   Câu thơ được người xưa khắc trên tấm bia đá đặt trên núi Thổ Sơn ngay giữa lòng thành phố Tuyên Quang như một lời khẳng định và nhắc nhở chúng ta rằng. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Tuyên Quang là vùng đất được coi như phên giậu nơi miềm biên ải của Tổ quốc, là tường thành vững chắc che trở cho kinh thành Thăng Long. Nói như vậy để biết rằng Tuyên Quang là vùng đất cổ với truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, là vùng đất sinh tồn và phát triển của con người cách nay hàng vạn năm.
   Con người Tuyên Quang cũng có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tiêu biểu như danh nhân Hà Hưng Tông quê ở châu Vị Long nay là huyện Chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang; ông từng được vua Lý phong làm Phò ký lang, đô tri Tả vũ Đại tướng quân, đồng trung thư môn hạ Bình chương sự, kiêm Quân nội Khuyến nông sự Thái bảo, Thái phó, Thượng trụ quốc (ghi trong Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi).
   Địa danh Tuyên Quang lần đầu tiên xuất hiện trong thư tịch cổ vào thời Trần với tên gọi lộ Tuyên Quang. Đến năm Quang Thái thứ 10 (1379), Hồ Quý Ly đổi tên lộ Tuyên Quang thành trấn Tuyên Quang. Dưới thời nhà Lê, năm 1428 cả nước được chia thành 5 đạo: Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo, Hải Tây đạo, trấn Tuyên Quang được phân định thuộc Tây đạo. Đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông chấn chỉnh cơ cấu hành chính nhà nước, chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên, trong đó có thừa tuyên Tuyên Quang.
   Tháng mười Âm lịch năm Tân Mão (tháng 11 năm 1831), vua Minh Mệnh tiến hành cải cách bộ máy hành chính toàn quốc, chia định địa hạt từ Quảng Trị trở ra phía Bắc thành 18 tỉnh, trong đó có tỉnh Tuyên Quang, đây là lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện tỉnh Tuyên Quang trong hệ thống hành chính của nhà nước phong kiến Việt Nam.
   Trải qua các thời kỳ lịch sử, tên đơn vị hành chính của Tuyên Quang đã thay đổi nhiều lần, từ lộ, trấn đến thừa tuyên, xứ, mà thời điểm sớm nhất là thời Trần cách đây trên bẩy trăm năm. Song thời điểm có ý nghĩa quan trọng nhất, mang dấu ấn lịch sử sâu sắc, là mốc son trong tiến trình hình thành và phát triển của vùng đất Tuyên Quang đó là vào tháng mười Âm lịch năm Tân Mão (tháng 11 năm 1831), vua Minh Mệnh định ra tỉnh Tuyên Quang, đây là thời điểm tỉnh Tuyên Quang được xác định rõ ràng cả về địa gới, vị trí địa lý và bộ máy hành chính trong văn bản có giá trị pháp lý của nhà nước phong kiến Việt Nam.
   Với tầm quan trọng và ý nghĩa đó, ngày mùng 1 tháng mười âm lịch năm Tân Mão (04/11/1831) ngày diễn ra sự kiện chia định ra tỉnh Tuyên Quang được chọn là ngày khai sinh, ngày truyền thống của tỉnh Tuyên Quang.


 (Trương Đức Tiến, phòng Văn hóa và Thông tin thành phố)






Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm: